Hải Phòng 28/03/2020
Tư vấn - Hỏi đáp
Gửi câu hỏi đến cho chúng tôi
Những mực đánh dấu (*) là những nội dung bắt buộc nhập
Câu hỏi đã trả lời
Nghỉ thai sản được 3 tháng, do công ty đang cần người nên tôi đi làm trở lại và có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe. Tôi đi làm lại khi chưa hết thời gian nghỉ thai sản như thế có đúng quy định của pháp luật không?
Người gửi: Lê Thị Hân, quận Dương Kinh - 20/03/2020
Trả lời
Theo Khoản 4 Điều 157 Bộ Luật lao động năm 2012 quy định: “Trước khi hết thời gian nghỉ thai sản là 06 tháng, nếu có nhu cầu, có xác nhận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có thẩm quyền về việc đi làm sớm không có hại cho sức khỏe của người lao động và được người sử dụng lao động đồng ý, lao động nữ có thể trở lại làm việc khi đã nghỉ ít nhất được 04 tháng. Trong trường hợp này, ngoài tiền lương của những ngày làm việc do người sử dụng lao động trả, lao động nữ vẫn tiếp tục được hưởng trợ cấp thai sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.”
Như vậy, theo quy định trên khi được cơ sở khám chữa bệnh xác nhận, người sử dụng lao động đồng ý thì bạn phải đáp ứng điều kiện trở lại làm việc sau thời gian nghỉ thai sản ít nhất được 04 tháng. Vì vậy trường hợp bạn đi làm sớm hơn khi mới nghỉ thai sản được 03 tháng là không quy định của pháp luật.
Hàng năm, người sử dụng lao động có bắt buộc phải khám sức khỏe định kỳ cho người lao động không?
Người gửi: Nguyễn Văn Tiến, huyện Tiên Lãng - 06/03/2020
Trả lời
Theo Khoản 2 Điều 152 Bộ luật Lao động năm 2012; Khoản 1, Khoản 2 Điều 21 Luật An toàn, vệ sinh lao động năm 2015 quy định:
Người sử dụng lao động phải tổ chức khám sức khoẻ định kỳ hằng năm cho người lao động, kể cả người học nghề, tập nghề; lao động nữ phải được khám chuyên khoa phụ sản, người làm công việc nặng nhọc, độc hại, người lao động là người khuyết tật, người lao động chưa thành niên, người lao động cao tuổi phải được khám sức khỏe ít nhất 06 tháng một lần. Người làm việc trong môi trường lao động tiếp xúc với các yếu tố có nguy cơ gây bệnh nghề nghiệp phải được khám phát hiện bệnh nghề nghiệp.
Như vậy, người sử dụng lao động bắt buộc phải tổ chức khám sức khỏe định kỳ hằng năm cho người lao động.
Tôi ký hợp đồng thử việc tại công ty với thời hạn 2 tháng. Trong hợp đồng quy định tiền lương tôi được hưởng là 75% mức lương của công việc. Vậy tiền lương trong thời gian thử việc công ty trả cho tôi có đúng quy định pháp luật không?
Người gửi: Ngô Thị Thanh, Công nhân huyện Vĩnh Bảo - 20/02/2020
Trả lời
Căn cứ quy định tại các Điều 26, Điều 27 và Điều 28 Bộ luật Lao động, người sử dụng lao động và người lao động có thể thỏa thuận về việc làm thử, quyền, nghĩa vụ của hai bên trong thời gian thử việc. Nếu có thỏa thuận về việc làm thử thì các bên có thể giao kết hợp đồng thử việc.
Thời gian thử việc căn cứ vào tính chất và mức độ phức tạp của công việc nhưng chỉ được thử việc 1 lần đối với một công việc. Không quá 60 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn, kỹ thuật từ cao đẳng trở lên; không quá 30 ngày đối với công việc có chức danh nghề cần trình độ chuyên môn kỹ thuật trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp, công nhân kỹ thuật, nhân viên nghiệp vụ và không quá 6 ngày làm việc đối với công việc khác.
Tiền lương của người lao động trong thời gian thử việc do 2 bên thỏa thuận nhưng ít nhất phải bằng 85% mức lương của công việc đó.
Như vậy, đối với trường hợp của bạn công ty trả lương thử việc chưa đúng quy định. Vì vậy bạn cần đề nghị công ty tăng lên ít nhất bằng 85% mức lương của công việc.
Cho tôi hỏi mức phụ cấp trách nhiệm cho an toàn, vệ sinh viên được quy định như thế nào?
Người gửi: Nguyễn Đình Tùng, Khu công nghiệp Đình Vũ - 20/02/2020
Trả lời
Theo Điểm b, khoản 5 Điều 74 Luật An toàn vệ sinh lao động năm 2015 quy định về quyền của an toàn, vệ sinh viên:
Được dành một phần thời gian làm việc để thực hiện các nhiệm vụ của an toàn, vệ sinh viên nhưng vẫn được trả lương cho thời gian thực hiện nhiệm vụ và được hưởng phụ cấp trách nhiệm.
Mức phụ cấp trách nhiệm do người sử dụng lao động và Ban chấp hành công đoàn cơ sở thống nhất thỏa thuận và được ghi trong quy chế hoạt động của mạng lưới an toàn, vệ sinh viên;
Như vậy, an toàn, vệ sinh viên được người sử dụng lao động trả lương cho thời gian làm việc thực hiện các nhiệm vụ của an toàn, vệ sinh viên và được hưởng phụ cấp trách nhiệm. Mức phụ cấp trách nhiệm sẽ do người sử dụng lao động và Ban Chấp hành công đoàn cơ sở thỏa thuận và quyết định.
Đến tháng 2 năm 2020 tôi nghỉ hưu, vì công ty đang thiếu người nên muốn tôi ký hợp đồng lao động mới sau khi tôi nghỉ hưu. Nếu tôi đồng ý thì tôi được ký loại hợp đồng lao động nào? Pháp luật quy định như thế nào về hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi?
Người gửi: Phạm Văn Tuấn, quận Ngô Quyền - 14/01/2020
Trả lời
Tại khoản 1 Điều 166 Bộ luật lao động quy định: Người lao động cao tuổi là người tiếp tục lao động sau độ tuổi nghỉ hưu.
Căn cứ Điều 167, khoản 3 Điều 186 Bộ luật lao động; khoản 1 Điều 6 Nghị định 05/2015/NĐ-CP; khoản 3 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP hợp đồng lao động với người lao động cao tuổi được quy định như sau:
Khi người sử dụng lao động có nhu cầu và người lao động cao tuổi có đủ sức khỏe theo kết luận của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật thì hai bên có thể thỏa thuận kéo dài thời hạn hợp đồng lao động hoặc giao kết hợp đồng lao động mới.
Pháp luật không quy định bắt buộc loại hợp đồng lao động ký kết giữa người sử dụng lao động và người lao động cao tuổi nên việc ký loại hợp đồng lao động sẽ do 2 bên thỏa thuận căn cứ tính chất công việc.
Khi người sử dụng lao động không có nhu cầu hoặc người lao động cao tuổi không có đủ sức khỏe thì hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng.
Khi đã nghỉ hưu, nếu làm việc theo hợp đồng lao động mới, thì ngoài quyền lợi đang hưởng theo chế độ hưu trí, người lao động cao tuổi vẫn được hưởng quyền lợi đã thỏa thuận theo hợp đồng lao động.
Ngoài việc trả lương theo công việc, người sử dụng lao động có trách nhiệm chi trả thêm cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động cao tuổi một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp và tiền nghỉ phép hằng năm theo quy định.
Tôi làm thủ kho cho công ty đóng trên địa bàn huyện Kiến Thụy với mức lương 5.000.000 đồng/tháng. Hợp đồng lao động của tôi có thời hạn 01 năm kể từ ngày 01/01/2020 đến ngày 31/12/2020. Vậy mức lương công ty trả cho tôi như vậy có đúng không?
Người gửi: Nguyễn Văn Thuận, Kiến Thụy, Hải Phòng - 08/01/2020
Trả lời
Nghị định 90 của Chính phủ quy định mức thương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc theo hợp đồng lao động (được thực hiện từ 1-1-2020). Nghị định quy định đối với thành phố Hải Phòng áp dụng vùng 1 và vùng 2: Vùng 1 gồm các quận và các huyện: Thủy Nguyên, An Dương, An Lão, Vĩnh Bảo, Tiên Lãng, Cát Hải, Kiến Thụy; Vùng 2 gồm các huyện còn lại.
Mức 4.420.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng 1; Mức 3.920.000 đồng/tháng, áp dụng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng 2. Mức lương này là mức thấp nhất làm cơ sở để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận và trả lương, trong đó mức lương trả cho người lao động làm việc trong điều kiện lao động bình thường, bảo đảm đủ thời gian làm việc bình thường trong tháng và hoàn thành định mức lao động hoặc công việc đã thỏa thuận phải đảm bảo: Không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất; cao hơn ít nhất 7% so với mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm công việc đòi hỏi đã qua học nghề, đào tạo nghề.
Như vậy, đối chiếu quy định nêu trên huyện Kiến Thụy thuộc vùng 1 mức lương công ty trả cho bạn cao hơn mức lương tối thiểu vùng là đúng quy định pháp luật.
Tôi được giao nhiệm vụ lái xe nâng. Trong quá trình làm việc do sơ suất tôi làm hỏng xe , công ty yêu cầu tôi bồi thường thiệt hại. Công ty làm thế có đúng không?
Người gửi: Trần Văn Công, Thủy Nguyên, Hải Phòng - 24/10/2019
Trả lời
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 101, Điều 130, Điều 131 Bộ luật lao động năm 2012 và  Điều 32 Nghị định 05/2015/NĐ-CP quy định:
Người lao động phải bồi thường nhiều nhất là 03 tháng tiền lương ghi trong hợp đồng lao động của tháng trước liền kề trước khi gây thiệt hại bằng hình thức khấu trừ hằng tháng vào lương do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ, thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế không quá 10 tháng lương tối thiểu vùng áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố;
Người lao động phải bồi thường thiệt hại một phần hoặc toàn bộ theo thời giá thị trường khi thuộc một trong các trường hợp:do sơ suất làm hư hỏng dụng cụ thiết bị với giá trị thiệt hại thực tế từ 10 tháng lương tối thiểu vùng trở lên áp dụng tại nơi người lao động làm việc do Chính phủ công bố; làm mất dụng cụ, thiết bị, tài sản của người sử dụng lao động hoặc tài sản khác do người sử dụng lao động giao; tiêu hao vật tư quá định mức cho phép của người sử dụng lao động;  
Trường hợp người lao động gây thiệt hại cho người sử dụng lao động theo quy định nêu trên mà có hợp đồng trách nhiệm với người sử dụng lao động thì phải bồi thường theo hợp đồng trách nhiệm.
Việc xem xét, quyết định mức bồi thường thiệt hại phải căn cứ vào lỗi, mức độ thiệt hại thực tế và hoàn cảnh thực tế gia đình, nhân thân và tài sản của người lao động.
Mức khấu trừ tiền lương hằng tháng không được quá 30% tiền lương hằng tháng của người lao động sau khi trích nộp các khoản bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, thuế thu nhập.
Như vậy, bạn gây thiệt hại cho công ty thì bạn phải có nghĩa vụ bồi thường, mức bồi thường thiệt hại thì phải căn cứ vào quy định nêu trên cũng như nội quy lao động của công ty.
Tôi làm thủ kho trong công ty, ký hợp đồng lao động có thời hạn 3 năm. Tôi có lấy ít que hàn mang về nhà. Ra cổng, tôi bị bảo vệ phát hiện lập biên bản về hành vi trộm cắp tài sản. Ngày hôm sau, công ty họp xử lý kỷ luật sa thải tôi. Công ty sa thải tôi như vậy có đúng quy định của pháp luật không?
Người gửi: Vũ Xuân Hải, Công nhân Khu công nghiệp Tràng Duệ - 18/10/2019
Trả lời
Trong Khoản 1 Điều 126 Bộ luật lao động có quy định hình thức xử lý kỷ luật sa thải người lao động khi có hành vi trộm cắp. Tuy nhiên theo quy định tại Khoản 1 Điều 123 Bộ luật lao động, Khoản 5 Điều 27 Nghị đinh 05/2015/NĐ-CP và Khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP quy định như sau:
Các hành vi vi phạm kỷ luật lao động, hình thức xử lý kỷ luật lao động và trách nhiệm vật chất: Danh mục hành vi vi phạm, mức độ vi phạm tương ứng với các hình thức xử lý kỷ luật lao động; mức độ thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải được quy định trong nội quy lao động.
Khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, người sử dụng lao động tiến hành lập biên bản vi phạm, thông báo đến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật trong trường hợp người lao động là người dưới 18 tuổi để tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động. Trừ trường hợp người lao động đang trong thời gian không được xử lý kỷ luật quy định tại Khoản 4 Điều 123 Bộ luật lao động.
Căn cứ các quy định nêu trên, để trả lời việc công ty xử lý kỷ luật sa thải bạn có đúng quy định của pháp luật hay không phải căn cứ vào các quy định cụ thể trong nội quy lao động của công ty.
Sau khi nghỉ việc tại công ty 1 tháng tôi đi làm thủ tục hưởng trợ cấp thất nghiệp. Vậy trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp tôi có được cấp thẻ bảo hiểm y tế không? Thời gian tham gia bảo hiểm y tế gián đoạn bao lâu vẫn được tính là liên tục ?
Người gửi: Trần Thị Thái, Công nhân huyện Vĩnh Bảo - 02/10/2019
Trả lời
Theo Điều 51 Luật việc làm 2013, Điểm d Khoản 2 Điều 12 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014, Khoản 5 Điều 12 Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định:
 Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp được hưởng chế độ bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật về bảo hiểm y tế. Tổ chức bảo hiểm xã hội đóng bảo hiểm y tế cho người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp từ Quỹ bảo hiểm thất nghiệp.
Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế bao gồm người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp. Căn cứ quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp, tổ chức bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế cho người lao động.
Thời gian tham gia bảo hiểm y tế 05 năm liên tục trở lên đối với đối tượng phải cùng chi trả chi phí khám bệnh, chữa bệnh. Thời gian tham gia bảo hiểm y tế liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ bảo hiểm y tế lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tối đa không quá 03 tháng.
Như vậy, sau khi có quyết định hưởng trợ cấp thất nghiệp bạn sẽ được cơ quan Bảo hiểm xã hội cấp thẻ bảo hiểm y tế có thời hạn trong thời gian hưởng trợ cấp thất nghiệp. Thời gian tham gia bảo hiểm y tế liên tục là thời gian sử dụng ghi trên thẻ bảo hiểm y tế lần sau nối tiếp lần trước; trường hợp gián đoạn tối đa không quá 03 tháng.
Tôi đã ký 2 hợp đồng lao động với công ty, mỗi hợp đồng có thời hạn là 1 năm. Hợp đồng thứ 2 đã hết hiệu lực được 15 ngày, tôi vẫn làm việc bình thường nhưng công ty vẫn chưa ký hợp đồng lao động với tôi. Hợp đồng lao động tiếp theo của tôi có thời hạn bao lâu? Tôi phải làm gì để bảo vệ quyền lợi của mình nếu công ty không tiếp tục ký hợp đồng lao động ?
Người gửi: Lê Văn Tú, Công nhân quận Lê Chân, Hải Phòng - 13/09/2019
Trả lời
Khoản 2 Điều 22 Bộ luật Lao động năm 2012 quy định: Khi hợp đồng lao động xác định thời hạn và hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng quy định tại khoản 1 Điều 22 hết hạn mà người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày hợp đồng lao động hết hạn, hai bên phải ký kết hợp đồng lao động mới; nếu không ký kết hợp đồng lao động mới thì hợp đồng lao động xác định thời hạn trở thành hợp đồng lao động không xác định thời hạn và Hợp đồng lao động theo mùa vụ hoặc theo một công việc nhất định có thời hạn dưới 12 tháng trở thành hợp đồng lao động xác định thời hạn với thời hạn là 24 tháng; Trường hợp hai bên ký kết hợp đồng lao động mới là hợp đồng xác định thời hạn thì cũng chỉ được ký thêm 01 lần, sau đó nếu người lao động vẫn tiếp tục làm việc thì phải ký kết hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
Khoản 4 Điều 1 Nghị định 88 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 95 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, BHXH, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng quy định:
 Phạt tiền người sử dụng lao động khi có một trong các hành vi: Không giao kết hợp đồng lao động bằng văn bản đối với công việc có thời hạn trên 3 tháng; không giao kết đúng loại hợp đồng lao động với người lao động; giao kết hợp đồng lao động không đầy đủ các nội dung chủ yếu của hợp đồng lao động; giao kết hợp đồng lao động trong trường hợp thuê người lao động làm giám đốc trong doanh nghiệp có vốn của Nhà nước không theo quy định của pháp luật từ 1.000.000 đồng đến 2.000.000 đồng với vi phạm từ 01 người đến 10 người lao động;
Như vậy, vì công ty đã ký với bạn 2 lần hợp đồng lao động có thời hạn 1 năm nên hợp đồng lao động tiếp theo của bạn là hợp đồng lao động không xác định thời hạn. Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình bạn trực tiếp yêu cầu công ty ký hợp đồng lao động với bạn. Trường hợp công ty không thực hiện, bạn có quyền làm đơn khiếu nại đến hòa giải viên lao động thuộc phòng lao động thương binh xã hội cấp quận, huyện nơi công ty đặt trụ sở chính theo quy định tại Điều 200 Bộ luật Lao động để được giải quyết hoặc gửi đơn đến Chánh Thanh tra Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, nơi người sử dụng lao động đặt trụ sở chính.
Công việc hiện tại của tôi chỉ làm giờ hành chính có ký hợp đồng lao động và đóng bảo hiểm xã hội đầy đủ , để kiếm thêm thu nhập tôi có xin được một công việc khác ngoài giờ hành chính không ảnh hưởng tới công việc hiện tại. Vậy tôi có thể cùng lúc ký hợp đồng lao động với 2 công ty được không? Nếu được việc đóng bảo hiểm xã hội sẽ thực hiện như thế nào ?
Người gửi: Nguyễn Thị Nga , Hồng Bàng, Hải Phòng - 29/08/2019
Trả lời
Theo Điều 21 Bộ luật lao động, Điểm a khoản 1 Điều 4 Nghị định 44/2013/NĐ-CP, Khoản 1 Điều 42 Quyết định 595/QĐ – BHXH ngày 14/ 4/ 2017 quy định:
Người lao động có thể giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ các nội dung đã giao kết.
Trong trường hợp giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động, việc tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của người lao động được thực hiện theo quy định của Chính phủ.
Người lao động giao kết hợp đồng lao động với nhiều người sử dụng lao động mà người lao động và người sử dụng lao động thuộc đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thì người lao động và người sử dụng lao động của hợp đồng lao động giao kết đầu tiên có trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của pháp luật.
Người sử dụng lao động của các hợp đồng lao động còn lại có trách nhiệm chi trả cùng lúc với kỳ trả lương của người lao động khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp thuộc trách nhiệm của người sử dụng lao động theo quy định của pháp luật.
Người lao động đồng thời có từ 02 hợp đồng lao động trở lên với nhiều đơn vị khác nhau thì đóng BHXH, BHTN theo HĐLĐ giao kết đầu tiên, đóng BHYT theo HĐLĐ có mức tiền lương cao nhất, đóng BHTNLĐ, BNN theo từng HĐLĐ.
Như vậy, theo quy định nêu trên bạn có thể ký hợp đồng lao động cùng lúc với 2 công ty nhưng phải bảo đảm thực hiện đầy đủ nội dung đã giao kết. Công ty đầu tiên đã tham gia bảo hiểm xã hội cho bạn nên công ty thứ 2 không phải tham gia bảo hiểm xã hội cho bạn nữa mà công ty có trách nhiệm chi trả một khoản tiền tương đương với mức đóng bảo hiểm cùng lúc với kỳ trả lương.
Công ty tiến hành xử lý kỷ luật lao động nhưng người lao động vắng mặt thì có đúng quy định pháp luật không?
Người gửi: Nguyễn Văn Hưng, Khu công nghiệp VSIP - 30/07/2019
Trả lời
 Khoản 1 Điều 123 Bộ luật lao động, Khoản 12 Điều 1 Nghị định 148/2018/NĐ-CP quy định như sau:
Khi phát hiện người lao động có hành vi vi phạm kỷ luật lao động tại thời điểm xảy ra hành vi vi phạm, người sử dụng lao động tiến hành lập biên bản vi phạm, thông báo đến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở; cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật trong trường hợp người lao động dưới 18 tuổi để tiến hành họp xử lý kỷ luật lao động.
Trường hợp người sử dụng lao động phát hiện hành vi vi phạm kỷ luật lao động sau thời điểm hành vi phạm đã xảy ra, chứng minh được lỗi của người lao động và trong thời hiệu xử lý kỷ luật thì: người sử dụng lao động thông báo nội dung, thời gian, địa điểm cuộc họp xử lý kỷ luật lao động đến tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở, người lao động, nếu người lao động dưới 18 tuổi thì phải có sự tham gia của cha, mẹ hoặc người đại diện theo pháp luật, đảm bảo các thành phần này nhận được thông báo trước khi diễn ra cuộc họp và tiến hành cuộc họp khi có sự tham gia của các thành phần thông báo; tối đa 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được thông báo, thành phần tham dự phải xác nhận tham dự cuộc họp. Trường hợp không tham dự phải thông báo cho người sử dụng lao động và nêu rõ lý do.Trường hợp một trong các thành phần nêu trên không xác nhận tham dự cuộc họp, hoặc nêu lý do không chính đáng, hoặc đã xác nhận tham dự nhưng không đến họp thì người sử dụng lao động vẫn tiến hành xử lý kỷ luật lao động.
Như vậy, người lao động bị xử lý kỷ luật lao động không xác nhận tham dự cuộc họp, hoặc nêu lý do không chính đáng, hoặc đã xác nhận tham dự nhưng không đến họp thì công ty vẫn tiến hành xử lý kỷ luật lao động.
Lượt truy cập
Hôm nay:1264
Tất cả:00749680
Đang trực tuyến:44

Designed and Maintained byDanaWeb.vn