Bình đẳng giới là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của xã hội, mở ra cánh cửa cho một tương lai tươi sáng hơn. Trên toàn thế giới, các quốc gia đang cùng nhau nỗ lực để xây dựng một xã hội mà ở đó, mọi người đều có cơ hội bình đẳng. Bình đẳng giới là khi nam và nữ được đối xử công bằng, có cơ hội như nhau để phát triển và đóng góp cho xã hội. Đó không chỉ là một khẩu hiệu mà là nền tảng cho một xã hội công bằng, tiến bộ. Với những ý nghĩa đó, Đảng và Nhà nước ta đã có những hành động quyết liệt để hiện thực hóa mục tiêu bình đẳng giới. Luật Bình đẳng giới năm 2006 và Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2020 là những minh chứng rõ ràng cho quyết tâm đó. Thực hiện lời kêu gọi của Đảng và nhà nước, cùng với việc tham gia các công ước quốc tế về quyền con người, Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật. Nhờ đó, quyền lợi của phụ nữ và trẻ em gái ngày càng được bảo vệ, tạo nên những chuyển biến tích cực rõ rệt.

Luật Bình đẳng giới được Quốc hội Việt Nam thông qua ngày 29/11/2006 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2007. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm nam và nữ có cơ hội ngang nhau trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình. Luật gồm 6 Chương với 44 Điều.
Mục tiêu của Luật: Xoá bỏ phân biệt đối xử về giới, tạo cơ hội như nhau cho nam và nữ trong phát triển kinh tế - xã hội và phát triển nguồn nhân lực, tiến tới bình đẳng giới thực chất giữa nam, nữ và thiết lập, củng cố quan hệ hợp tác, hỗ trợ giữa nam, nữ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Một số nội dung quan trọng được nhấn mạnh trong Luật: Nam và nữ bình đẳng trong tuyển dụng, trả lương, thăng tiến trong công việc; Bình đẳng trong việc tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ y tế, giáo dục; Bình đẳng trong tham gia quản lý nhà nước và xã hội; Phòng, chống bạo lực trên cơ sở giới.
Chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới cụ thể ra sao?
Căn cứ Điều 7
Luật Bình đẳng giới 2006 quy định các chính sách của Nhà nước về bình đẳng giới như sau:
- Bảo đảm bình đẳng giới trong mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình; hỗ trợ và tạo điều kiện cho nam, nữ phát huy khả năng, có cơ hội như nhau để tham gia vào quá trình phát triển và thụ hưởng thành quả của sự phát triển.
- Bảo vệ, hỗ trợ người mẹ khi mang thai, sinh con và nuôi con nhỏ; tạo điều kiện để nam, nữ chia sẻ công việc gia đình.
- Áp dụng những biện pháp thích hợp để xoá bỏ phong tục, tập quán lạc hậu cản trở thực hiện mục tiêu bình đẳng giới.
- Khuyến khích cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân tham gia các hoạt động thúc đẩy bình đẳng giới.
- Hỗ trợ hoạt động bình đẳng giới tại vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hỗ trợ những điều kiện cần thiết để nâng chỉ số phát triển giới đối với các ngành, lĩnh vực và địa phương mà chỉ số phát triển giới thấp hơn mức trung bình của cả nước.
Những nguyên tắc cơ bản nào về bình đẳng giới?
Theo quy định tại Điều 6
Luật Bình đẳng giới 2006, trong bình đẳng giới có những nguyên tắc cơ bản như sau:
Thứ nhất: Nam, nữ bình đẳng trong các lĩnh vực của đời sống xã hội và gia đình.
Thứ hai: Nam, nữ không bị phân biệt đối xử về giới.
Thứ ba: Biện pháp thúc đẩy bình đẳng giới không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Thứ tư: Chính sách bảo vệ và hỗ trợ người mẹ không bị coi là phân biệt đối xử về giới.
Thứ năm: Bảo đảm lồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng và thực thi pháp luật.
Thứ sáu: Thực hiện bình đẳng giới là trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, gia đình, cá nhân.
.jpg)
(TTHH)